Solar power construction me maintenance rcm rumtechs

Nhu cầu Điện VN hiện nay và tương lai, khó khăn & thách thức?

Chủ tịch HĐTV của Tập đoàn Điện lực Việt Nam ông Dương Quang Thành đã giành thời gian trao đổi với Tạp chí Năng lượng Việt Nam về những bước phát triển mới của ngành điện trong tình hình có nhiều khó khăn, thách thức.
Trong năm 2019, ngành Điện lực Việt Nam đã gặp những khó khăn và thách thức không nhỏ. Đó là, nhu cầu tiêu dùng điện của nền kinh tế – xã hội tăng cao, trong khi việc cung ứng nhiên liệu cho các nhà máy nhiệt điện ngày càng thiếu hụt, thời tiết khô hạn kéo dài xẩy ra ở cả ba miềm đã gây không ít khó khăn cho các nhà máy thủy điện, đặc biệt là các nhà máy thủy điện trên hệ thống sông Đà. Nguồn cung cấp than và khí đốt trong nước ngày càng giảm, nguồn nước “về” ít nhất trong 30 năm. Trong năm 2019, ngành điện đã phải giảm công suất phát, thậm chí phải dừng một số tổ máy.
Ngoài ra, các dự án nguồn điện, đường dây và trạm mới cũng bị chậm tiến độ. Trong bối cảnh đó, ngành điện đã phải không ngừng nỗ lực để cung ứng đủ điện cho nền kinh tế. Minh chứng rõ ràng nhất là chỉ số tiếp cận điện năng của Việt Nam trong năm 2019 vẫn tiếp tục tăng bậc. Hiện xếp thứ 27/190 quốc gia và xếp thứ 4 trong ASEAN về tiếp cận điện năng. Về quy mô, hệ thống điện của chúng ta hiện đứng thứ 23 thế giới và đứng thứ 2 khu vực ASEAN.

Nhu cầu điện của nền kinh tế đã tăng nhanh. Vậy, ngành điện đã làm thế nào để “đi trước một bước” để tăng nhanh hơn thưa ông?

2019 EVN đã hoàn thành và đưa vào phát điện thương mại 5 dự án nguồn điện với tổng công suất hơn 1.428 MW (trong đó có 1.288 MW nguồn nhiệt điện và 140 MW nguồn điện mặt trời – ĐMT); đã khởi công 2 dự án ĐMT với tổng công suất 99MW; đang thu xếp vốn để khởi công Nhiệt điện Quảng Trạch 1, Thủy điện Hòa Bình (mở rộng), ĐMT Phước Thái; đang chuẩn bị đầu tư các dự án Thủy điện Ialy (mở rộng), Nhiệt điện Ô Môn 3 và 4; Nhiệt điện Dung Quất 1 và, Nhiệt điện Quảng Trạch 2, Thủy điện Trị An (mở rồng) v.v…
Về lưới, trong năm 2019 EVN đã khởi công 196 công trình, và đã hoàn thành 192 công trình lưới 110 ÷ 500kV. Trong đó, đang tập trung đầu tư các công trình trọng điểm như: đường dây 500kV Vũng Áng – Dốc Sỏi – Pleiku 2, đấu nối các nhiệt điện BOT Nghi Sơn 2, Vân Phong, giải tỏa công suất các nguồn điện tái tạo, nhập khẩu điện từ Lào. Tổng giá trị đầu tư của EVN năm 2019 đạt 100.480 tỷ đồng.

Vấn đề môi trường trong sản xuất nhiệt điện than thưa ông?

Các dự án nhiệt điện than của EVN, cũng như của TKV, PVN, hay của tư nhân trong và ngoài nước đều tuân thủ nghiêm ngặt các giải pháp về bảo vệ môi trường, giảm phát thải đã được đề ra trong các đánh giá tác động môi trường (ĐTM). Sau quá trình đầu tư xây dựng, khi đi vào sản xuất ổn định các nhà máy nhiệt điện than đã bắt đầu khôi phục màu xanh trong khuôn viên nhà máy và trong khu vực dự án. Lượng tro, xỉ thải ra được tận dụng ngày càng tăng. Vấn đề phát thải bụi, NOx và SOx luôn được kiểm soát bằng các công nghệ tiên tiến như: ESP, FGD, FF, SCR v.v… tại các nhà máy điện. Các chỉ số kiểm soát môi trường luôn được kết nối với các cơ quan quản lý theo thời gian thực. Tính đến cuối năm 2019, tỷ lệ tiêu thụ tro xỉ đạt 70%, cao hơn nhiều so với các năm trước, khi mà từ năm 2015-2018 trung bình tỷ lệ này chỉ đạt khoảng 40%.

Vấn đề “tắc nghẽn” đường đến với người tiêu dùng của nguồn năng lượng tái tạo mới – #điện_mặt_trời #SolarPower, điện gió?

Đó là sự cố ai cũng lường được trước, nhưng nó vẫn xẩy ra. Hệ thống điện Việt Nam, từ lâu là một hệ thống hợp nhất. Các khu vực phía Nam có nhu cầu phụ tải cao, các nguồn điện tái tạo được bổ sung lại tập trung ở khu vực Bình Thuận, Ninh Thuận – nơi không có nhu cầu điện đột biến. Rất đáng tiếc, khu vực triển khai các dự án điện mặt trời chỉ có hệ thống lưới 110 kV, không thể truyền tải hết điện năng của hàng loạt dự án được hoàn thành “nước rút” (để hưởng cơ chế giá điện cao). Vấn đề kinh tế đã gây sức ép lên vấn đề kỹ thuật và nằm ngoài khả năng của EVN.
Hy vọng, đây chỉ là vấn đề kỹ thuật tức thời, đã, đang được khẩn trương khắc phục, và nó sẽ được nghiên cứu và có các giải pháp cơ bản trong các quy hoạch dài hạn 5-10 năm.

Dự báo của ông về những vấn đề nổi cộm của ngành điện trong năm 2020?

Nhu cầu điện của nền kinh tế trong năm 2020 vẫn tiếp tục tăng sẽ dẫn đến 2 điều nổi cộm nhất trong năm tới. Điều nổi cộm thứ nhất là ngành điện không có dự phòng về nguồn. Lượng nước thiếu hụt của các nhà máy thủy điện dự tính tương đương với hơn 10 tỷ kWh. Nguồn than và khí thiên nhiên cho nhiệt điện cũng không có khả năng đáp ứng đủ nhu cầu để có thể huy động công suất tối đa. Việc đầu tư mới các nguồn nhiệt điện than gặp khó khăn trong thu xếp vốn, việc mở rộng các nhà máy thủy điện đều chậm tiến độ.
Điều nổi cộm thứ hai là, chi phí đầu vào của ngành điện có xu hướng tăng, giá than đang vượt ngưỡng 3U$/MBTU, giá khí sẽ vượt ngưỡng 10U$/MBTU, sản lượng nhiệt điện chạy dầu 2020 sẽ phải tăng 3÷6 tỷ kWh để bù cho thủy điện v.v…

Ngành điện sẽ “xoay xở” GIẢI PHÁP như thế nào, thưa ông?

Thủ tướng đã yêu cầu ngành điện không được để thiếu điện cho phát triển kinh tế, phải rà soát lại chỉ tiêu phấn đấu của ngành với tinh thần tiến công. Trên tinh thần đó, sản lượng điện cấp cho nền kinh tế được EVN dự tính sẽ tăng xấp xỉ 9%, đạt mức 228 tỷ kWh.
Muốn vậy, trong năm 2020 ngành điện phải hoàn thành 5 dự án nguồn điện tái tạo (Thủy điện Thượng Kon Tum, Sê San 4 và 4 dự án điện mặt trời: Phước Thái 1, 2, 3); khởi công 2 dự án (Nhiệt điện Quảng Trạch 1 và Thủy điện Hòa Bình MR); hoàn thành chuẩn bị đầu tư 3 dự án lớn (Thủy điện Ialy MR, Nhiệt điện Ô Môn 4; Nhiệt điện Dung Quất 1) và hoàn thành quyết toán 15 công trình nguồn điện khác.
Về lưới điện, trong năm 2020 dự kiến sẽ khởi công 218 công trình và hoàn thành 240 công trình lưới 110-500kV. Ngành điện sẽ tập trung đầu tư các công trình trọng điểm như: Đường dây 500kV Vũng Áng – Dốc Sỏi – Pleiku 2; lưới điện đồng bộ (cho Nhiệt điện Hải Dương, Nghi Sơn 2); lưới điện giải tỏa công suất (cho nguồn điện tái tạo miền trung và nguồn thủy điện Tây Bắc); lưới điện liên kết (để mua điện từ Lào); lưới điện cung cấp cho các khu vực trọng điểm (miền Nam, TP Hà Nội và các phụ tải lớn khác).
Như vậy, tổng giá trị đầu tư xây dựng cơ bản của EVN năm 2020 phải đạt mức 93.216 tỷ đồng.

Những kiến nghị về việc giải quyết các vướng mắc cụ thể mà EVN không thể tự mình xử lý được?

Trước hết, về mặt quản lý vĩ mô, EVN đề nghị Thủ tướng Chính phủ:
Thứ nhất: Sớm ban hành Chỉ thị về việc tăng cường áp dụng các giải pháp sử dụng năng lượng tiết kiệm và có hiệu quả với các chỉ tiêu tiết kiệm năng lượng ít nhất 5%/năm trong tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế, xã hội và đặc biệt là đối với các khách hàng có nhu cầu tiêu thụ điện lớn.
Thứ hai: Phê duyệt Chiến lược phát triển Tập đoàn Điện lực Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến 2030.
Thứ ba: Sớm ban hành cơ chế giá điện 2 thành phần, cơ chế đặc thù để đầu tư các dự án điện cấp bách, cơ chế mới về giá điện mặt trời, về dự án điện BOT và thị trường điện cạnh tranh v.v…

Những vướng mắc với các địa phương đã kéo dài và đang cản trở tiến độ thực hiện các dự án mà ngành điện cần được tháo gỡ trong năm 2020 gồm:
Thứ nhất: Phê duyệt PFS dự án 500kV Nam Định – Phố Nối.
Thứ hai: PFS dự án Thủy điện Trị An (mở rộng).
Thứ ba: Đền bù GPMB nhánh rẽ 220kV sau các trạm 500kV (Phố Nối – Hải Dương, Việt Trì- Phú Thọ, Lưu Xá – Thái Nguyên) và đường dây 220kV Kiên Bình – Phú Quốc.
Thứ tư: Chuyển đổi đất rừng liên quan đến các công trình đường dây (tại Nghệ An, Ninh Thuận, Sơn La, Yên Bái, Phú Thọ).
Thứ năm: Xác định vị trí trạm biến áp 220kV Tân Cảng (TP HCM).

Ngoài ra, EVN cũng mong các bộ, ngành và Ủy ban Quản lý vốn Nhà nước tại Doanh nghiệp quan tâm giải quyết một số vấn đề như:
Thứ nhất: Báo cáo Thủ tướng chủ trương chuyển giao cho EVN tài sản và quản lý vận hành các nhà máy điện BOT Phú Mỹ 3, Phú Mỹ 2.2.
Thứ hai: Thẩm định PFS dự án Nhiệt điện Ô Môn 3.
Thứ ba: Xem xét cấp bảo lãnh đối với các dự án cấp bách.
Thứ tư: Hướng dẫn thực hiện Nghị định 68/2019/NĐ-CP về quản lý chi phí đầu tư xây dựng.
Thứ năm: Chỉ đạo các chủ đầu tư các dự án nguồn điện (ngoài EVN) thực hiện đúng tiến độ theo Quy hoạch điện VII (điều chỉnh), vận hành các nhà máy điện theo đúng kế hoạch đã được Bộ Công Thương phê duyệt.

Thông tin liên hệ:

Công ty Cổ phần Công nghệ & Thương mại RumtechS
Trụ sởSố 99 đường số 12, Kp.4, P.Tam Bình, Q.Thủ Đức, Tp.HCM
MSDN: 031.615.7543 | Emailrumtechs.com@gmail.com | Webhttps://rumtechs.com
Tel: 093 3 286 121 | 093 179 8131 | FacebookCty RumtechS JSC
* Arrival for You & Company!

Leave a Comment

Your email address will not be published.